Hòa giải thương mại, nhất cử lưỡng tiện

Được sự đồng ý của tác giả là LS. Lê Trọng Thêm, VICMC đăng lại bài viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn online để các Hòa giải viên cùng tham khảo.

Tôi muốn kể về một tranh chấp thực tế giữa hai cổ đông là vợ chồng trong một tập đoàn tư nhân lớn khác. Mâu thuẫn cổ đông trầm trọng bắt nguồn từ sự đổ vỡ quan hệ vợ chồng. Nhưng khác với phương án đưa ra tòa án để phân xử đúng sai và chia tài sản như ông Vũ và bà Thảo ở Công ty Trung Nguyên, ông chồng trong vụ việc này đã mời một luật sư có uy tín và nhận được sự tin tưởng của cả hai vợ chồng để bàn về phương án chia quyền lợi tại công ty.

Lấy bài học từ vụ ly hôn của ông Vũ và bà Thảo, vị luật sư tiếp cận bằng việc đặt mình ở vị trí là hòa giải viên thay vì là luật sư riêng của bà vợ hay ông chồng. Vị luật sư này tổ chức một cuộc họp chung với hai vợ chồng nhằm thống nhất lựa chọn phương thức hòa giải để giải quyết mâu thuẫn và tổ chức nhiều cuộc họp riêng với từng người.

Thông qua các cuộc họp, hòa giải viên phát hiện mặc dù quan điểm về lợi ích của các bên khác nhau, nhưng bà vợ nêu nguyện vọng được sở hữu và quản lý công ty, trong khi ông chồng đồng ý nhận tiền để đầu tư vào lĩnh vực phát triển sân golf, lĩnh vực mà lâu nay ông đề xuất công ty đầu tư nhưng bà vợ phản đối. Cuối cùng sau hai tuần hỗ trợ kết nối nguyện vọng các bên, vị luật sư đã giúp vợ chồng đại gia này đi đến được thỏa thuận chung đảm bảo lợi ích của cả hai. Tranh chấp nhanh chóng được khép lại với kết quả phù hợp với mong muốn của các bên.

Cho đến trước ngày Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại được ban hành, Việt Nam chưa có khung pháp lý cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại. Hiện nay, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và hòa giải là hai trong số các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) phổ biến nhất hiện nay. Tuy nhiên, hòa giải thương mại vẫn còn là một điều mới mẻ với các doanh nhân và hầu hết các doanh nghiệp.

Giải pháp tối ưu của doanh nghiệp

Hòa giải thương mại ra đời nhằm mục đích khắc phục các nhược điểm đã cản trở các bên khi lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp bằng cơ quan tài phán (trọng tài, tòa án). Thực tế trong vụ việc tranh chấp trên, ngoài vị luật sư làm hòa giải viên thì không một ai biết đến sự tồn tại tranh chấp quyền lợi giữa các cổ đông là vợ chồng này.

Vì giữ được bí mật, hai vợ chồng không những thống nhất được phương án chia tài sản mà còn giữ cho mối quan hệ gia đình không bị xã hội, dư luận gièm pha. Tranh chấp tài sản được giải quyết đáp ứng được nguyện vọng của các bên và quan hệ cổ đông trong công ty vẫn được duy trì, hoạt động kinh doanh của công ty không bị ảnh hưởng.

Trong vụ ông Vũ bà Thảo, các bên phải mất hàng chục tỉ đồng để chi trả án phí, chi phí tố tụng, phí luật sư và chi phí cơ hội vì lãng phí thời gian của hai thương nhân, cũng như các hệ lụy mà tập đoàn Trung Nguyên gặp phải. Nhờ lựa chọn phương thức hòa giải, cặp vợ chồng nói trên đã tiết kiệm được một số tiền lớn chi phí giải quyết tranh chấp và giữ được hình ảnh cá nhân, tổ chức.

Thời gian trung bình cho việc giải quyết tranh chấp tại tòa án thường kéo dài một năm, có nhiều vụ kéo dài cả chục năm. Trong khi đó, thời gian được rút ngắn hơn nếu lựa chọn cơ chế trọng tài, nhưng sẽ tối ưu về thời gian nếu các bên lựa chọn hòa giải thương mại.

Hiện nay, pháp luật đã đảm bảo cơ chế thực thi các kết quả hòa giải thương mại. Trong trường hợp một trong các bên không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình theo kết quả hòa giải thành, bên còn lại có quyền thực hiện thủ tục cho công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Quyết định công nhận hòa giải thành ngoài tòa án sẽ có hiệu lực thi hành và được cưỡng chế thi hành như một bản án tại tòa. Đây là một trong những ưu điểm vượt trội so với phương án các bên tự thương lượng hòa giải.

Ngành dịch vụ hòa giải đang nở rộ

Ngành dịch vụ hòa giải đã và đang phát triển không ngừng trên toàn thế giới. Tại Singapore, năm 2017 có gần 500 vụ tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải thương mại. Trong khu vực Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ, cơ chế hòa giải đang là phương thức giải quyết tranh chấp chiếm tỷ trọng lớn cả về số lượng vụ việc và giá trị tài sản tranh chấp hiện nay.

Tại Việt Nam, ngay sau khi Nghị định 22 có hiệu lực, nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đã đăng ký làm hòa giải viên vụ việc với các sở tư pháp. Đồng thời, các trung tâm hòa giải thương mại hoạt động phi lợi nhuận cũng nhanh chóng được thành lập. Một số trung tâm hòa giải thương mại lớn hiện nay như Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC), Trung tâm Hòa giải thương mại quốc tế (VICMC) thu hút được số lượng hòa giải viên đăng ký.

Trong năm 2018, với sự tài trợ của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thuộc Nhóm Ngân hàng thế giới (WBG), Trung tâm Giải quyết tranh chấp hiệu quả (CEDR) đã đào tạo và cấp chứng chỉ chương trình hòa giải viên thương mại theo tiêu chuẩn quốc tế. Thông qua chương trình này, gần 100 chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đã được đào tạo các kiến thức và kỹ năng một cách chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu phát triền của ngành dịch vụ hòa giải.

Nguyên tắc tự do thỏa thuận được tôn trọng tuyệt đối

Pháp luật hiện hành cũng như bộ quy tắc hòa giải của các trung tâm hòa giải đều cho phép các bên được quyền thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải tại thời điểm trước, sau hoặc tại bất kỳ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp. Điều này có nghĩa, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận luôn phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại nếu tranh chấp phát sinh.

Trong trường hợp hòa giải thương mại không đem lại hiệu quả, một trong các bên vẫn có quyền đưa vụ việc ra trung tâm trọng tài hoặc tòa án để tiếp tục được giải quyết. Điều đáng lưu ý rằng các thông tin, tài liệu được sử dụng trong giai đoạn hòa giải sẽ không được sử dụng để làm chứng cứ tại các cơ quan giải quyết tranh chấp khác.

Sau khi tranh chấp phát sinh, các bên vẫn có thể thỏa thuận lựa chọn hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp. Trong thời gian giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, các bên cũng có thể thỏa thuận rằng không bên nào được quyền đưa vụ việc ra trọng tài và tòa án để giải quyết.

Sự khác biệt lớn của hòa giải thương mại và các hòa giải thông thường đang vận hành hiện nay là hòa giải viên/hội đồng hòa giải không chủ động đưa ra phương án giải quyết tranh chấp, không đưa quan điểm chuyên môn nhằm thuyết phục các bên đi đến thỏa thuận.

Vai trò của hòa giải viên/hội đồng hòa giải là nắm giữ nguyên tắc và quy trình hòa giải để tạo điều kiện cho các bên được tự do đưa ra quan điểm của mình về vụ việc, tự do đưa ra phương án giải quyết tranh chấp của mình và hòa giải viên sẽ đóng vai trò là đại sứ truyền đạt lại các thông tin được các bên cho phép. Với cách làm này, hòa giải thương mại đề cao vai trò của các bên và tạo điều kiện để các bên tự do thỏa thuận, để họ tự giải quyết tranh chấp của mình theo mong muốn riêng của các bên.

LS. Lê Trọng Thêm – Luật sư Công ty Luật LTT & Lawyers, Hòa giải viên chính thức Trung tâm Hòa giải thương mại quốc tế Việt Nam (VICMC)

Các bài viết trước

Buổi học về hòa giải của lớp Luật sư Hội nhập Quốc tế khóa IV tại Hà Nội

Trong hai ngày 07-08/08/2021, Chủ tịch Trung tâm Hòa giải Thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC) – Luật sư Nguyễn Hưng Quang và các Hòa giải viên của Trung tâm đã tham gia giảng dạy về giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế bằng hòa giải cho lớp Luật sư Hội nhập Quốc tế khóa IV tại Hà Nội.

Viết một bình luận