Trong bối cảnh hiện nay, các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, khẳng định vai trò là cấu phần thiết yếu và là giải pháp trọng tâm giúp giảm tải áp lực cho hệ thống Tòa án, nâng cao khả năng tiếp cận công lý[1]. Sự tích hợp này tạo điều kiện chuyển dịch văn hóa tranh chấp từ đối đầu sang đối thoại và thỏa hiệp nhằm gìn giữ mối quan hệ hợp tác dài hạn[2]. Tại Việt Nam, hòa giải đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình cải cách tư pháp nhờ khả năng giải quyết tranh chấp nhanh chóng ở giai đoạn tiền tố tụng, hạn chế khiếu kiện kéo dài và tiết kiệm nguồn lực của Nhà nước[3]. Đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh, đây là công cụ chiến lược giúp doanh nghiệp điều hướng rủi ro khi hội nhập. Với ưu điểm vượt trội về tối ưu hóa thời gian, chi phí và bảo mật tuyệt đối thông tin nhạy cảm về bí mật kinh doanh, hòa giải không làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh mà hướng tới giải pháp cân bằng, ưu tiên duy trì mối quan hệ kinh doanh sau khi chấm dứt tranh chấp.
Việc Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2020, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khóa XIV đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, tạo ra một khung pháp lý về việc giải quyết tranh chấp thông qua phương thức hòa giải và đối thoại tại Tòa án. Luật ra đời nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý, tôn trọng quyền tự định đoạt và khuyến khích giải quyết các tranh chấp thông qua hòa giải, đối thoại; không làm tăng bộ máy, tổ chức, biên chế của Tòa án[4]. Với kết cấu gồm 4 chương và 42 Điều, Luật đã quy định các nguyên tắc cơ bản và chính sách quan trọng của Nhà nước về hòa giải và đối thoại tại Tòa án, quy định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên và các bên tham gia. Đồng thời, luật cũng quy định chi tiết về quy trình, thủ tục hòa giải và đối thoại, cũng như các quy định về công nhận và thực thi kết quả của hòa giải, đối thoại thành tại Tòa án. Thực tiễn triển khai trong những năm vừa qua đã chứng minh tính hiệu quả của luật này thông qua những số liệu chuyển biến rõ rệt. Trong năm đầu tiên triển khai, số lượng vụ việc chuyển sang hòa giải, đối thoại tại Tòa án là 28.004 vụ việc (chiếm tỷ lệ 12,18% số lượng đơn khởi kiện, đơn yêu cầu mà Tòa án nhận được). Số lượng vụ việc đã được hòa giải thành, đối thoại thành là 10.430 vụ việc (chiếm tỷ lệ 37,24% số lượng vụ việc chuyển sang hòa giải, đối thoại). Số lượng vụ việc đã ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 8.682 vụ việc (chiếm tỷ lệ 83,24% số lượng vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành)[5]. Cho đến 02 năm tiếp theo, kết quả đã tăng mạnh với 72.955 vụ việc thành, đạt tỷ lệ 62,11% (tổng kết năm 2022) và tiếp tục duy trì hiệu quả cao với 63.030 vụ việc thành trong năm 2023. Ngoài ra, các Tòa án đã tuyển chọn và bổ nhiệm được hơn 3.000 Hòa giải viên có trình độ, uy tín và nhiệt huyết trên toàn quốc[6]. Tính đến năm 2024, trong tổng số đơn đã giải quyết của TAND hai cấp thành phố Hà Nội đã có đến 3.391 đơn hoà giải, đối thoại thành[7]. Dựa trên những kết quả trên, có thể thấy việc hàng chục ngàn vụ việc được giải quyết ở giai đoạn tiền tố tụng đã giúp giảm đáng kể gánh nặng án tồn đọng cho Tòa án, tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả người dân lẫn ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, để đồng bộ hóa hệ thống pháp luật với quá trình cải cách tổ chức bộ máy tư pháp và các luật tố tụng liên quan, Quốc hội đã ban hành Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Luật số 85/2025/QH15). Những sửa đổi này đảm bảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020 đã liên kết với các luật liên quan.
1. Những sửa đổi đáng chú ý của Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án sửa đổi, bổ sung năm 2025
Mô hình hòa giải, đối thoại tại Tòa án theo Luật năm 2025 tiếp tục kế thừa và giữ nguyên những đặc điểm cốt lõi của Luật năm 2020 nhằm duy trì sự kết hợp giữa tính linh hoạt của cơ chế giải quyết tranh chấp do người dân thay thế (ADR) và cơ chế giải quyết tranh chấp bằng bộ máy tư pháp, như: giải quyết tranh chấp được thực hiện hoàn toàn ở giai đoạn tiền tố tụng độc lập, linh hoạt, bảo mật[8]; vận hành dưới sự bảo trợ trực tiếp của Tòa án thông qua đội ngũ Hòa giải viên được Tòa án nhân dân tối cao bồi dưỡng, bổ nhiệm[9], cùng hệ thống cơ sở vật chất tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực[10]; giúp cho chi phí giải quyết tranh chấp giảm đi, loại bỏ gánh nặng tài chính của quy trình xét xử truyền thống qua nhiều cấp cho cả đương sự và Nhà nước[11]. Vấn đề này giúp cho người dân, doanh nghiệp có hiểu biết hơn về mô hình giải quyết tranh chấp bằng hoà giải.
Để đáp ứng các yêu cầu trên, Luật số 85/2025/QH15 đã thực hiện các sửa đổi, bổ sung trọng tâm nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho cơ chế này.
(i) Về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền thực hiện hòa giải, đối thoại: Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi trọng tâm nhất là việc chuyển dịch trách nhiệm quản lý và thực hiện hòa giải từ cấp tỉnh về Tòa án nhân dân (TAND) khu vực[12], phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp và Luật Tổ chức Tòa án mới, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Chánh án TAND khu vực có các trách nhiệm như: tuyển chọn và lập danh sách người đủ điều kiện làm Hòa giải viên để đề nghị cấp tỉnh bổ nhiệm; phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải cho từng vụ việc; và đánh giá kết quả hoạt động của Hòa giải viên, hỗ trợ, hướng dẫn chuyên môn,…Theo quy định tại Thông tư số 05/2025/ TT-TANDTC thì trách nhiệm của Chánh án TAND khu vực trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án bao gồm những nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC và những nội dung được chuyển từ quy định về trách nhiệm của Chánh án TAND cấp tỉnh trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC[13].
(ii) Về trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại: Quy trình được điều chỉnh theo hướng tăng cường tính chủ động cho bộ máy giúp việc tại cơ sở. Đối với việc tiếp nhận và xử lý vụ việc, các đơn vị giúp việc tại TAND khu vực thực hiện việc nhận đơn, xác định vụ việc đủ điều kiện hòa giải và tống đạt các văn bản liên quan một cách độc lập. Đối với quyền lựa chọn hoà giải viên, các bên có quyền lựa chọn trong danh sách của Tòa án có thẩm quyền hoặc từ một TAND khu vực khác trên cùng địa giới hành chính cấp tỉnh[14].
(iii) Về công nhận kết quả hòa giải thành: được thực hiện nhanh chóng thông qua cơ chế phân cấp và giám sát chặt chẽ. Chánh án TAND khu vực phân công Thẩm phán xem xét và ra quyết định công nhận (hoặc không công nhận) kết quả hòa giải thành[15]. Có thể thấy rằng TAND khu vực trở thành đơn vị chủ yếu thực hiện hòa giải – đối thoại (hoà giải tiền tố tụng) trong hệ thống Tòa án hiện nay.
2. Vị trí và tác động của Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án sửa đổi, bổ sung năm 2025
Các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) đối với tranh chấp thương mại gồm: thương lượng, hòa giải thương mại, và trọng tài thương mại. Qua thống kê khảo sát của Bộ Tư pháp, phương thức giải quyết tranh chấp mà các doanh nghiệp, cá nhân tại Việt Nam ưu tiên sử dụng lần lượt là thương lượng (57,8%), tố tụng do Tòa án thực hiện (46,8%), hòa giải (22,8%), và cuối cùng là trọng tài (16,8%)[16]. Mô hình hòa giải, đối thoại tại Tòa án theo Luật Hoà giải, đối thoại là một cơ chế tiền tố tụng đặc thù, giúp các bên hàn gắn mâu thuẫn dưới sự hỗ trợ của Hòa giải viên do Tòa án bổ nhiệm trước khi vụ việc được thụ lý, góp phần quan trọng trong giải quyết tranh chấp như Toà án đã thống kê ở trên.
Mối quan hệ giữa mô hình hòa giải, đối thoại tại Tòa án và mô hình hòa giải thương mại được thể hiện qua sự bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) tại Việt Nam, với một số điểm tương đồng về mục tiêu nhưng khác biệt rõ rệt về cơ chế vận hành và đối tượng áp dụng.
Điểm tương đồng giữa hai mô hình này là đều có mục tiêu hướng tới sự đồng thuận của các bên đương sự. Thay vì đối đầu thắng – thua theo phương thức tố tụng, cả hai mô hình đều đề cao việc các bên tranh chấp nỗ lực để hướng tới việc đạt được một thoả thuận thống nhất trên tinh thần thiện chí và quyền tự định đoạt của các bên để tìm kiếm giải pháp “hai bên cùng thắng”. Đồng thời, việc bảo mật thông tin cũng là một trong những ưu điểm nổi bật của cả hai mô hình so với tính công khai của phiên tòa, từ đó giúp bảo vệ uy tín, bí mật kinh doanh cũng như sự riêng tư của các bên tranh chấp thông qua việc không công khai nội dung hoà giải thành.
Hai mô hình này có một số điểm khác biệt đáng lưu ý, như: (i) chủ thể tiến hành hoà giải: hoà giải viên trong hoạt động hoà giải, đối thoại tại Toà án do Tòa án bổ nhiệm, làm việc dưới sự quản lý và hỗ trợ trực tiếp của hệ thống Tòa án. Trong khi đó, hoà giải thương mại cho phép các bên thoả thuận và cùng lựa chọn hoà giải viên thương mại hoặc tổ chức hòa giải thương mại. (ii) Về đối tượng tranh chấp: hoà giải, đối thoại tại Toà án giải quyết nhiều đối tượng tranh chấp như tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động và cả khiếu kiện hành chính. Trong khi đó, hoà giải thương mại chủ yếu tập trung vào giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại. (iii) Công nhận kết quả hoà giải thành: Tại Khoản 1 Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 quy định: “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính”. Đối với hoà giải thương mại, để có giá trị thi hành như bản án, các bên phải thực hiện thêm thủ tục công nhận tại Tòa án theo Điều 416 và Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
3. Kết luận:
Để Luật số 85/2025/QH15 trở thành một bệ đỡ cho mô hình hoà giải thương mại phát triển cần có sự đồng hành thực chất giữa hệ thống Tòa án, Bộ Tư pháp và các tổ chức hoà giải thương mại, như:
Trao đổi kinh nghiệm và phối hợp công việc về hoà giải thương mại giữa hoà giải tại Toà án với hoà giải thương mại. Mặc dù số lượng hoà giải viên của mô hình hoà giải tại Toà án vào khoảng hơn 3.000 người nhưng thực tế số lượng vẫn còn thiếu và nhiều hoà giải viên chưa có kinh nghiệm đối với mô hình hoà giải thương mại. Vấn đề này đặt ra yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần có những kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải chung. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy Nhật Bản đã áp dụng mô hình đào tạo phân cấp, bao gồm: tập huấn hướng dẫn cho hòa giải viên mới, tổ chức khóa nghiên cứu vụ việc thực tế, và tập huấn nâng cao cho hòa giải viên giàu kinh nghiệm; kết hợp huy động các chuyên gia đầu ngành như bác sĩ, kỹ sư, kế toán tham gia tố tụng để tận dụng kiến thức chuyên môn sâu trong các vụ việc đặc thù[17]. Đồng thời, tương tự mô hình của Thái Lan, hòa giải viên cần được trang bị kỹ năng điều hành phiên hòa giải linh hoạt, tập trung gợi mở các giải pháp hai bên cùng thắng[18].
Nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về hòa giải thương mại với trọng tâm là xây dựng Luật Hòa giải thương mại riêng biệt hoặc một đạo luật chung về hòa giải. Đây là điều cần thiết để khẳng định vị thế của phương thức giải quyết tranh chấp này, tạo sự đồng bộ và tương thích với Luật mẫu UNCITRAL.
Về lâu dài, việc thiết lập mối quan hệ hỗ trợ hiệu quả giữa hòa giải, đối thoại tại Tòa án, và hòa giải thương mại. Thậm chí, Toà án có nhờ giới thiệu các bên tranh chấp sử dụng dịch vụ hoà giải thương mại chuyên sâu để hỗ trợ cho Toà án trong việc giải quyết tranh chấp đối với những vụ án phức tạp về các yếu tố kỹ thuật, pháp luật và tập quán thương mại quốc tế. Toà án nhân dân tối cao cần chuẩn hóa năng lực đội ngũ Hòa giải viên để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng hoà giải tại Toà án. Nếu được như vậy, người dân, doanh nghiệp sẽ tin tưởng vào phương thức hoà giải và qua đó sẽ lựa chọn sử dụng phương thức này (trong đó có hoà giải thương mại) trong giải quyết tranh chấp. Qua đó, phương thức hoà giải thương mại được phát triển tại Việt Nam./.
Tác giả bài viết:
Nguyễn Hưng Quang – Chủ tịch Trung tâm Hoà giải Thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC);
Nguyễn Phương Thảo Uyên – Thư ký Trung tâm Hoà giải Thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC);
Nguyễn Ngọc Khánh An – Sinh viên Đại học Phenikaa
[1] Younas, F.(2025).Alternative Dispute Resolution (ADR) Future of Justice System. International Journal of Law and Policy. 3 (9),33-49. https://doi.org/10.59022/ijlp.365
[2] Younas, F.(2025). Sđd.
[3] Tạ Đình Tuyên (2025). Hoàn thiện một số quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/1045102/hoan-thien-mot-so-quy-dinh-cua-luat-hoa-giai%2C-doi-thoai-tai-toa-an%2C-dap-ung-yeu-cau-cai-cach-tu-phap-theo-tinh-than-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx
[4] Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (2024). Một số khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020. Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội. https://vkshanoi.gov.vn/Tin-tức/Diễn-đàn-nghiệp-vụ/mot-so-kho-khan-vuong-mac-tu-thuc-tien-thi-hanh-luat-hoa-giai-doi-thoai-tai-toa-an-nam-2020
[5] Khổng Vũ Hà (2025). Thực tiễn triển khai Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật. Tạp chí điện tử pháp lý. https://phaply.net.vn/thuc-tien-trien-khai-luat-hoa-giai-doi-thoai-tai-toa-an-va-mot-so-de-xuat-hoan-thien-phap-luat-1-a258468.html
[6] Báo cáo tóm tắt về công tác của các Tòa án trong năm 2022 và một số nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2023. Cổng thông tin điện tử Toà án Nhân dân tối cao. https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND284234
[7] Mạnh Hùng (2025). TAND TP. Hà Nội: Triển khai nhiều giải pháp thực hiện hiệu quả công tác hòa giải, đối thoại. Báo điện tử Công lý. https://congly.vn/tand-tp-ha-noi-trien-khai-nhieu-giai-phap-thuc-hien-hieu-qua-cong-tac-hoa-giai-doi-thoai-466328.html
[8] Nguyễn Hòa Bình (2018). Đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/51654/doi-moi%2C-tang-cuong-hoa-giai%2C-doi-thoai-trong-qua-trinh-giai-quyet-cac-tranh-chap-dan-su%2C-khieu-kien-hanh-chinh-dap-ung-yeu-cau-cai-cach-tu-phap.aspx
[9] Khổng Vũ Hà (2025). Thực tiễn triển khai Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật. Tạp chí điện tử pháp lý. https://phaply.net.vn/thuc-tien-trien-khai-luat-hoa-giai-doi-thoai-tai-toa-an-va-mot-so-de-xuat-hoan-thien-phap-luat-1-a258468.html
[10] Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 4 Thông tư số 05/2025/TT-TANDTC
[11] Nguyễn Hòa Bình (2018). Đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/51654/doi-moi%2C-tang-cuong-hoa-giai%2C-doi-thoai-trong-qua-trinh-giai-quyet-cac-tranh-chap-dan-su%2C-khieu-kien-hanh-chinh-dap-ung-yeu-cau-cai-cach-tu-phap.aspx
[12] Khoản 2 Điều 5 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
[13] Quang Minh (2025). Một số điểm mới về trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án và đề xuất, kiến nghị. Tạp chi Toà án Nhân dân. https://tapchitoaan.vn/mot-so-diem-moi-ve-trach-nhiem-cua-toa-an-nhan-dan-cap-tinh-toa-an-nhan-dan-khu-vuc-trong-hoat-dong-hoa-giai-doi-thoai-tai-toa-an-va-de-xuat-kien-nghi13766.html
[14] Khoản 1 Điều 5 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
[15] Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 05/2025/ TT-TANDTC
[16] Lê Anh (2022). Sớm sửa đổi luật trọng tài thương mại 2010: đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển, tin hoạt động Quốc hội. Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Truy cập ngày 11 tháng 06 năm 2026 tại: https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=67942
[17] Thái Vũ – Hùng Lan (2019). Kinh nghiệm quốc tế về hòa giải, đối thoại. Tạp chí Toà án nhân dân. https://tapchitoaan.vn/kinh-nghiem-quoc-te-ve-hoa-giai-doi-thoai
[18] Thái Vũ – Hùng Lan (2019). Sđd.

































