Trong chưa đầy một thập kỷ, trí tuệ nhân tạo (AI) đã chuyển hóa từ một lĩnh vực nghiên cứu thuần túy sang thành một nhân tố tác động toàn diện tới kinh tế – xã hội. AI mang đến những ứng dụng thuận tiện và khả năng tổng hợp thông tin cho nhiều lĩnh vực trong đời sống thương mại nói riêng và đời sống của tất cả mọi người nói chung. Sự phát triển nhanh chóng của AI mang theo những tiện ích chưa từng có, nhưng cũng có những vấn đề rủi ro, như dữ liệu cá nhân, đạo đức và trách nhiệm pháp lý, an toàn mạng, lao động – việc làm và giáo dục…[1].
Tại Việt Nam, khung pháp lý về AI đã được khởi động từ nhiều năm trước qua các nghị quyết, kế hoạch và các chương trình chuyển đổi số của Đảng, Nhà nước. Ngày 10/12/2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 (Luật AI 2025), có hiệu lực từ ngày 01/3/2026. Với kết cấu gồm 8 chương và 35 điều, Luật AI 2025 thiết lập một bộ khung pháp lý toàn diện các hoạt động trí tuệ nhân tạo, ngăn ngừa rủi ro phát sinh. Phạm vi điều chỉnh của luật bao gồm các quy định về nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống AI; về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan; và quản lý nhà nước đối với hoạt động AI tại Việt Nam. Nguyên tắc nền tảng xuyên suốt chế định này là “lấy con người làm trung tâm”. Mọi hệ thống AI phải nhằm phục vụ lợi ích con người và không được thay thế thẩm quyền hay trách nhiệm của con người hoặc có những mục đích nhằm chống lại quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và an ninh quốc gia, trái với Hiến pháp và pháp luật. Hệ thống AI phải bảo đảm công bằng, minh bạch, không thiên lệch, không phân biệt đối xử; tuân thủ chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa Việt Nam; thực hiện trách nhiệm giải trình về các quyết định và hệ quả của hệ thống AI[2].
Luật quy định toàn bộ hệ thống AI phải được phân loại theo ba mức độ rủi ro gồm cao, trung bình và thấp, từ đó xác định mức độ giám sát và nghĩa vụ tuân thủ tương ứng. Trong đó, hệ thống rủi ro cao được kiểm tra định kỳ hoặc khi có dấu hiệu vi phạm; rủi ro trung bình được giám sát thông qua báo cáo, kiểm tra chọn mẫu hoặc đánh giá của tổ chức độc lập; và hệ thống rủi ro thấp được kiểm tra khi có sự cố, phản ánh hoặc khi cần thiết để bảo đảm an toàn. Về tính minh bạch của thông tin, mọi nội dung âm thanh, hình ảnh và video do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa đều phải được gắn nhãn nhận biết, đặc biệt khi có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực. Cùng với đó, Luật AI 2025 đã thiết lập được một hệ thống cơ chế ưu đãi, hỗ trợ và khuyến khích phát triển dành cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, từ hỗ trợ tài chính, hạ tầng kỹ thuật, tham gia nhiệm vụ khoa học – công nghệ đến cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) và chính sách khuyến khích chia sẻ dữ liệu, hợp tác nghiên cứu. Về dài hạn, Luật AI 2025 bắt buộc tích hợp nội dung về AI, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ vào chương trình giáo dục phổ thông, đặt nền móng cho một thế hệ công dân có năng lực làm chủ công nghệ[3].
Luật AI 2025 không chỉ tạo ra nghĩa vụ tuân thủ mới cho cá nhân, doanh nghiệp mà còn có thể đem đến các loại hình tranh chấp chưa từng xuất hiện và hỗ trợ cho các công cụ giải quyết tranh chấp.
Thứ nhất, các tranh chấp liên quan đến AI thường liên quan đến các yếu tố kỹ thuật phức tạp với các dòng chữ, số được mã hóa, thuật toán và hệ thống xử lý thông tin đa tầng, có độ tinh vi cao. Để giải quyết các vụ việc như vậy, phương thức giải quyết tranh chấp bằng tố tụng toà án hay trọng tài sẽ có thể gặp những vấn đề liên quan đến năng lực xử lý, bảo mật thông tin và dữ liệu, khả năng giải quyết tranh chấp sáng tạo… Trong khi đó, hòa giải thương mại với những đặc điểm riêng biệt có thể giải quyết được các vấn đề, như (i) Bảo mật thông tin và dữ liệu thể hiện trong việc toàn bộ nội dung thương lượng, tài liệu kỹ thuật và thông tin thuật toán được bảo vệ bởi cơ chế “không gây tổn haị” (without prejudice)[4] giúp các bên tránh nguy cơ phải công khai các bí mật công nghệ trong quá trình xét xử công khai tại toà án; (ii) Lựa chọn hòa giải viên có năng lực phù hợp, là người có chuyên môn pháp lý, hiểu biết về kỹ thuật AI phù hợp để giải quyết tranh chấp, không bị giới hạn bởi danh sách thẩm phán hay trọng tài viên cố định; (iii) Các bên có toàn quyền quyết định giải pháp sáng tạo và linh hoạt chotranh chấp, không có phán quyết áp đặt từ bên thứ ba, phù hợp với bản chất phức tạp của tranh chấp; và (iv) Mang lạicơ hội duy trì các mối quan hệ kinh doanh lâu dài trong bối cảnh hợp tác giữa các công ty công nghệ, nhà cung cấp dữ liệu và doanh nghiệp sử dụng hệ thống AI được đẩy mạnh.
Thứ hai, AI cũng đang dần trở thành công cụ hỗ trợ quá trình giải quyết tranh chấp. Ở giai đoạn trước khi tiến hành hòa giải, AI có thể hỗ trợ tiếp nhận, phân loại và sàng lọc hồ sơ nhằm xác định khả năng hòa giải thành công. Trong giai đoạn xử lý vụ việc, AI tóm tắt tài liệu kỹ thuật, phân tích bằng chứng và cung cấp dữ liệu so sánh về kết quả các vụ việc tương tự nhằm hỗ trợ hòa giải viên. Ở giai đoạn kết thúc, AI có thể hỗ trợ soạn thảo thỏa thuận hòa giải theo kết quả thương lượng đã đạt được.[5] Tuy nhiên, việc đưa AI vào quá trình giải quyết tranh chấp cũng đặt ra những rủi ro pháp lý và đạo đức cần được xem xét một cách cẩn trọng. Thứ nhất là vấn đề thiên kiến của thuật toán, trong các trường hợp hệ thống AI được huấn luyện trên bộ dữ liệu tranh chấp không khách quan, các kết quả dự báo và khuyến nghị của nó có thể vô tình củng cố cho những kết quả giải quyết bất công đã tồn tại. Ví dụ như trường hợp thuật toán COMPAS được sử dụng tại Hoa Kỳ để hỗ trợ thẩm phán đánh giá nguy cơ tái phạm và đưa ra quyết định trong quá trình xét xử. Các nghiên cứu cho thấy thuật toán này dự báo tỷ lệ tái phạm của bị cáo người da màu cao hơn thực tế gần gấp đôi so với bị cáo người da trắng, mặc dù yếu tố chủng tộc không được trực tiếp đưa vào mô hình. Sai lệch này bắt nguồn từ bộ dữ liệu huấn luyện phản ánh bất bình đẳng lịch sử trong hệ thống tư pháp, và hậu quả trực tiếp là nhiều bị cáo bị từ chối tại ngoại hoặc nhận bản án nặng hơn một cách không công bằng[6]. Thứ hai là vấn đề bảo mật dữ liệu, trong quá trình hòa giải, các bên sẽ chia sẻ thông tin nhạy cảm với hòa giải viên trong môi trường bảo mật, tuy nhiên khi AI xử lý những thông tin này, việc AI lưu trữ, truy cập và mục đích sử dụng dữ liệu như thế nào có thể trở thành một lỗ hổng, vi phạm các cam kết về bảo mật của các bên[7].
Hiện nay, một số tổ chức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) trên thế giới đã có những động thái chuẩn bị cho các tranh chấp tiềm năng liên quan đến AI. Ví dụ như Trung tâm Trọng tài và Hòa giải WIPO (Trung tâm WIPO) đã hình thành ADR chuyên biệt cho tranh chấp AI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, gồm hòa giải, trọng tài và thủ tục xác định chuyên gia. Trên trang thông tin chính thức, Trung tâm WIPO giới thiệu các dạng tranh chấp AI phổ biến, xác định các chủ thể tiềm năng và mô tả quy trình ADR phù hợp cho từng loại tranh chấp. Đồng thời, Trung tâm WIPO cũng duy trì danh sách chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và AI, các bên có thể linh hoạt chỉ định các chuyên gia từ danh sách này hoặc từ bên ngoài danh sách đó trên thế giới, đảm bảo tính linh hoạt và kịp thời khi có tranh chấp xảy ra[8]. Trung tâm Hòa giải Quốc tế Singapore (SIMC) cũng là một trong những tổ chức hòa giải thương mại tiên phong trong việc nghiên cứu áp dụng AI vào giải quyết các tranh chấp[9]. Công cụ AI của Trung tâm SIMC có tên là MAIA, được thiết kế để đơn giản hóa quy trình giải quyết tranh chấp bằng cách tạo ra một loạt các sự kiện, nêu rõ vai trò của từng cá nhân, cung cấp bảng thống nhất các quan điểm chung và khác biệt giữa các bên, và tóm tắt các tranh chấp dựa trên các tài liệu và dữ liệu do các bên cung cấp. Đồng thời, MAIA cũng có thể hỗ trợ soạn thảo thỏa thuận dàn xếp ban đầu để luật sư xem xét và hoàn thiện, từ đó nâng cao đáng kể hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp.
Nhìn từ kinh nghiệm của Trung tâm WIPO và SIMC, có thể rút một số bài học cho các tổ chức ADR nói chung và trung tâm hoà giải nói riêng trong bối cảnh AI phát triển nhanh chóng trên toàn cầu. Thứ nhất, các tổ chức ADR cần phát triển tài nguyên thông tin và hướng dẫn trực tuyến về tranh chấp AI, bao gồm giới thiệu các dạng tranh chấp phổ biến, xác định các chủ thể tiềm năng và mô tả quy trình ADR phù hợp cho từng loại tranh chấp. Việc xác định, dự trù và phân loại trước các thông tin trên sẽ giúp các tổ chức ADR, cũng như các hòa giải viên thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết vụ việc. Bởi vì, các lĩnh vực tranh chấp liên quan đến AI đa dạng và phức tạp nên cần chủ động chuẩn bị các phương án giải quyết, xây dựng chương trình đào tạo để có thể kịp thời thích ứng với từng vấn đề. Thứ hai, cần xây dựng và duy trì danh sách chuyên gia có năng lực kỹ thuật chuyên sâu về cả pháp lý và công nghệ thông tin, đặc biệt về AI. Những chuyên gia này không chỉ hiểu rõ các quy định pháp luật mà còn nắm vững các khái niệm kỹ thuật về AI, thuật toán và xử lý dữ liệu. Thứ ba, từ kinh nghiệm của SIMC với công cụ MAIA, các trung tâm hòa giải cần chủ động nghiên cứu và thử nghiệm việc áp dụng AI vào quy trình giải quyết tranh chấp của chính mình. Cần lưu ý rằng, việc áp dụng công nghệ này phải được thực hiện cẩn trọng với các biện pháp bảo vệ dữ liệu và kiểm soát chất lượng phù hợp.
Luật AI 2025 là một bước tiến vững chắc trong hành trình xây dựng xã hội số của Việt Nam. Bằng cách đặt con người làm trung tâm và xây dựng khung trách nhiệm pháp lý theo cấp độ rủi ro, luật đã thiết lập nền tảng quan trọng để điều tiết một trong những có công nghệ tác động mạnh nhất của thế kỷ 21. Trong bối cảnh đó, các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), đặc biệt là hòa giải thương mại, đóng vai trò là phương thức giải quyết tranh chấp có tiềm năng ứng dụng AI cao và khả năng giải quyết những vấn đề tranh chấp liên quan đến AI. Tính linh hoạt, bảo mật và việc đặt con người vào trung tâm của phương thức hòa giải không chỉ là đặc điểm kỹ thuật của một phương thức giải quyết tranh chấp, mà còn là một sự cộng hưởng sâu sắc với nguyên tắc cơ bản trong hoạt động trí tuệ nhân tạo của Luật AI 2025./.
Tác giả bài viết
Nguyễn Phương Thảo Uyên – Thư ký Trung tâm Hoà giải Thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC)
Phạm Quang Duy – Sinh viên Đại học Luật Hà Nội
[1] Bảo Ngọc. (2025). Vì sao phải làm luật quản AI?. Tuổi Trẻ Online. https://tuoitre.vn/vi-sao-phai-lam-luat-quan-ai-20251015185527896.htm
[2] Luật Trí tuệ nhân tạo Điều 4.
[3] Đức Thiện. (2026). Bốn điểm mới trong Luật Trí tuệ nhân tạo của Việt Nam. VnExpress. https://vnexpress.net/bon-diem-moi-trong-luat-tri-tue-nhan-tao-cua-viet-nam-5046036.html
[4] Cơ chế “Không gây bất lợi hay tổn hại” giúp bảo vệ các bên khi thảo luận các phương án trong quá trình giải quyết tranh chấp. Cơ chế này được quy định trong các quy tắc liên quan đến bảo mật tại các trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu như Singapore International Financial Centre (SIFC), Dubai International Financial Centre (DIFC), Abu Dhabi Global Market (ADGM). Tham khảo thêm: Điều 13.44. PRACTICE DIRECTION 13 COURT-ANNEXED MEDIATION. ADGM. https://en.adgm.thomsonreuters.com/rulebook/adgm-court-procedure-rules-amendment-no-1-2017
[5] Singapore International Mediation Centre. (2024). SIMC celebrates a decade of growth, unveils AI-powered tool MAIA. https://simc.com.sg/news/singapore-international-mediation-centre-celebrates-decade-growth-unveils-ai-powered-tool
[6] Angwin, J., Larson, J., Mattu, S., & Kirchner, L. (2016). Machine Bias. ProPublica. https://www.propublica.org/article/machine-bias-risk-assessments-in-criminal-sentencing
[7] Stephen Le (2024). AI tại nơi làm việc: Quyền riêng tư dữ liệu và rủi ro pháp lý tại Việt Nam. Xem tại: https://letranlaw.com/vi/insights/ai-tai-noi-lam-viec-quyen-rieng-tu-du-lieu-va-rui-ro-phap-ly-tai-viet-nam/
[8] World Intellectual Property Organization. (n.d.). WIPO ADR services for artificial intelligence. https://www.wipo.int/amc/en/center/specific-sectors/artificial-intelligence/
[9] Singapore International Mediation Centre. (2024). Singapore International Mediation Centre celebrates a decade of growth, unveils AI-powered tool. https://simc.com.sg/news/singapore-international-mediation-centre-celebrates-decade-growth-unveils-ai-powered-tool

































